Nhân tài công nghệ số được hưởng những ưu đãi gì theo quy định mới nhất?

Luật Công nghiệp công nghệ số có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 đã lần đầu tiên thiết lập một khung chính sách pháp lý riêng cho việc thu hút, trọng dụng nhân tài công nghệ số. Không chỉ mở rộng ưu đãi về thu nhập, môi trường làm việc, nghiên cứu, luật còn đặt ra các ràng buộc pháp lý chặt chẽ nhằm bảo đảm chính sách được thực thi đúng mục tiêu, không bị lợi dụng trong thực tiễn.

Chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài công nghệ số từ ngày 1/1/2026 có gì đặc biệt?

Để chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài được triển khai thống nhất, minh bạch, Luật Công nghiệp công nghệ số trước hết xác lập rõ tiêu chí nhận diện đối tượng được hưởng ưu đãi.

cn-1768264792.jpg
 

Khoản 1 Điều 20 Luật Công nghiệp công nghệ số quy định rõ khái niệm nhân tài công nghệ số: “Nhân tài công nghệ số là nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao đáp ứng tiêu chí nhân tài trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.”

Quy định này cho thấy, Luật Công nghiệp công nghệ không tạo ra một khái niệm biệt lập, mà gắn chặt việc xác định nhân tài công nghệ số với hệ thống pháp luật hiện hành về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây là cơ sở quan trọng để tránh tình trạng “nới rộng” hoặc “thu hẹp” đối tượng một cách cảm tính trong quá trình áp dụng.

Trên nền tảng khái niệm đó, các chính sách ưu đãi dành cho nhân tài công nghệ số được thiết kế theo hướng toàn diện, bao trùm cả thu nhập, điều kiện làm việc và cơ hội phát triển.

Trong khi đó, Khoản 2 Điều 20 Luật Công nghiệp công nghệ số quy định cụ thể các chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với nhân tài công nghệ số, bao gồm:

Được hưởng các ưu đãi đối với nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 19 của Luật này;

Được hưởng cơ chế đặc biệt về lương, thưởng cạnh tranh với mức lương, thưởng trên thế giới; được ưu tiên tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm theo quy định pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức;

Được hỗ trợ về môi trường làm việc, không gian sống, nhà ở, phương tiện đi lại; Được hỗ trợ tham gia hoạt động hợp tác quốc tế về công nghiệp công nghệ số;

Được hỗ trợ tài chính và cơ sở vật chất cho nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực công nghệ số;

 Được tôn vinh, khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.

Có thể thấy, các ưu đãi này không chỉ nhằm “thu hút” nhân tài trong ngắn hạn, mà còn hướng tới việc “giữ chân” và tạo điều kiện để nhân tài gắn bó, cống hiến lâu dài. Cách tiếp cận này phản ánh tư duy coi nhân lực công nghệ số là nguồn lực chiến lược, chứ không đơn thuần là lao động chất lượng cao.

Để bảo đảm tính linh hoạt trong tổ chức thực hiện, Luật không ấn định cứng các cơ chế cụ thể mà dành dư địa cho Chính phủ hướng dẫn chi tiết.

Khoản 3 Điều 20 Luật Công nghiệp công nghệ số quy định: Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Quy định mang tính “mở” này cho phép điều chỉnh chính sách phù hợp với từng giai đoạn phát triển, từng lĩnh vực công nghệ trọng điểm và từng nhóm nhân tài cụ thể.

nhan-tai-cong-nghe-so-duoc-huong-nhung-uu-dai-gi-theo-quy-dinh-moi-nhat-1768264703.jpg
Học sinh học ngành CNTT tại Trường CĐ Cơ điện Hà Nội. Ảnh: Thùy Anh.

Ưu đãi đi kèm trách nhiệm: Những hành vi nào bị nghiêm cấm?

Tuy nhiên, cùng với các cơ chế ưu đãi mạnh mẽ, Luật Công nghiệp công nghệ số cũng đặt ra yêu cầu kiểm soát chặt chẽ nhằm ngăn chặn việc lợi dụng chính sách hoặc sử dụng công nghệ số sai mục đích.

Khoản 1 Điều 12 Luật Công nghiệp công nghệ số nghiêm cấm hành vi:

“Lợi dụng hoạt động công nghiệp công nghệ số xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, lợi ích công cộng; quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; ảnh hưởng đạo đức xã hội, sức khỏe, tính mạng của con người.”

Quy định này thể hiện rõ quan điểm xuyên suốt của Luật: phát triển công nghệ số phải đặt trong khuôn khổ bảo vệ lợi ích quốc gia, quyền con người và trật tự xã hội.

Tiếp đó, để bảo đảm môi trường đổi mới sáng tạo lành mạnh, khoản 2 Điều 12 Luật Công nghiệp công nghệ số xác định rõ hành vi:

“Vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trong công nghiệp công nghệ số.” là hành vi bị nghiêm cấm.

Đặc biệt, nhằm ngăn chặn nguy cơ trục lợi chính sách ưu đãi – vấn đề thường phát sinh trong thực tiễn, Luật đã dành một quy định riêng để xử lý.

Khoản 4 Điều 12 Luật Công nghiệp công nghệ số quy định nghiêm cấm hành vi: “Giả mạo, gian dối để được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước; để được loại trừ trách nhiệm trong thử nghiệm có kiểm soát sản phẩm, dịch vụ ứng dụng công nghệ số.”

Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo phát triển nhanh và tác động sâu rộng đến đời sống xã hội, Luật cũng kịp thời đặt ra “lằn ranh pháp lý” đối với việc triển khai công nghệ này.

Khoản 6 Điều 12 Luật Công nghiệp công nghệ số nghiêm cấm việc: “Sử dụng, cung cấp, triển khai hệ thống trí tuệ nhân tạo để xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, lợi ích công cộng; quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và phá hoại thuần phong mỹ tục.”

Như vậy, có thể thấy, chính sách thu hút nhân tài công nghệ số không chỉ dừng ở việc “trao quyền và ưu đãi”, mà còn gắn chặt với yêu cầu tuân thủ pháp luật và chuẩn mực đạo đức xã hội.

Để các chính sách nêu trên có cơ sở triển khai thống nhất, Luật cũng quy định rõ thời điểm có hiệu lực.

Khoản 1 Điều 50 Luật Công nghiệp công nghệ số quy định: “Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.”

Theo đó, từ ngày 1/1/2026, các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và nhân lực trong lĩnh vực công nghệ số sẽ chính thức vận hành trong một hành lang pháp lý mới.

Bên cạnh đó, nhằm tránh cách hiểu không thống nhất khi áp dụng, Điều 3 Luật Công nghiệp công nghệ số đã giải thích rõ các khái niệm nền tảng như công nghệ số, công nghiệp công nghệ số, nhân lực công nghiệp công nghệ số, doanh nghiệp công nghệ số, khu công nghệ số tập trung, công nghiệp bán dẫn…. Đây là cơ sở quan trọng để các chính sách về nhân tài được triển khai đồng bộ trên thực tế.

Những điểm cần nhớ về chính sách nhân tài công nghệ số từ 1/1/2026: Khoản 1, khoản 2 Điều 20: Xác định rõ khái niệm nhân tài công nghệ số và hệ thống ưu đãi toàn diện. Điều 12 đặt ra các hành vi bị nghiêm cấm nhằm ngăn chặn trục lợi chính sách và bảo vệ lợi ích quốc gia. Khoản 1 Điều 50 quy định Luật có hiệu lực từ ngày 1/1/2026. Chính sách thu hút nhân tài công nghệ số luôn đi kèm trách nhiệm pháp lý và đạo đức nghề nghiệp.