Bãi bỏ Nghị định 100, xử phạt vi phạm nồng độ cồn áp dụng thế nào?

So với Nghị định 100/2019, mức phạt vi phạm nồng độ cồn đối với lái xe tăng mạnh theo nội dung Nghị định 168.

Ngày 26/3, Chính phủ ban hành Nghị định số 81/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường sắt, có hiệu lực thi hành từ ngày 15/5.

Điểm đáng chú ý, nghị định này bãi bỏ toàn bộ Nghị định 100/2019 - văn bản trước đây quy định xử phạt vi phạm hành chính trong cả lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.

"Việc bãi bỏ Nghị định 100 không có nghĩa là dừng xử phạt vi phạm giao thông, mà là thực hiện tách bạch, điều chỉnh theo từng lĩnh vực chuyên ngành", theo đại diện Cục Cảnh sát giao thông (Bộ Công an).

Sau khi bãi bỏ hoàn toàn Nghị định 100, cơ quan chức năng sẽ xử lý, xử phạt vi phạm giao thông theo Nghị định 168/2024 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2025) và Nghị định 336/2025/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ.

Đối với Nghị định 168/2024 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2025), mức phạt vi phạm giao thông đối với lái xe tăng cao hơn. Cụ thể, người vi phạm nồng độ cồn sẽ bị trừ điểm GPLX (từ 4 đến 10 điểm tùy mức độ) song song với việc bị phạt tiền và tước quyền sử dụng GPLX, thay vì chỉ bị tước GPLX như trước tại Nghị định 100.

Mức phạt giao thông tăng nặng đối với một số hành vi

Lái ô tô: Phạt tiền từ 6 đến 8 triệu đồng đối với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở, trừ 4 điểm giấy phép lái xe.

Phạt tiền từ 18 đến 20 triệu đồng đối với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở, trừ 10 điểm giấy phép lái xe.

Phạt tiền từ 30 đến 40 triệu đồng đối với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở. Tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 22 đến 24 tháng.

Lái xe máy: Phạt tiền từ 2 đến 3 triệu đồng đối với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở, trừ 4 điểm giấy phép lái xe.

Phạt tiền từ 6 đến 8 triệu đồng đối với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở, trừ 10 điểm giấy phép lái xe.

Phạt tiền từ 8 đến 10 triệu đồng đối với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở. Tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 22 đến 24 tháng.

Lái xe đạp: Nghị định 168/2024 đã quy định rõ, người điều khiển xe đạp mà vi phạm nồng độ cồn ở mức dưới 0,25mg/lít khí thở sẽ bị phạt 100.000 đến 200.000 đồng; vi phạm ở mức 0,25mg/lít khí thở đến 0,4mg/lít khí thở, bị phạt tiền 300.000 đến 400.000 đồng; vi phạm vượt mức 0,4mg/lít khí thở sẽ bị phạt 400.000 đến 600.000 đồng.

p-1774662747.jpg
Mức phạt giao thông tăng nặng đối với một số hành vi tại Nghị định 168. Ảnh: D.V

Nghị định 100 từng quy định mức phạt tiền từ 600.000 đồng đến 1 triệu đồng với người đi môtô, xe gắn máy không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông. Hành vi này khiến người vi phạm bị tước giấy phép lái xe 1-3 tháng.

Tuy nhiên trong Nghị định 168 hiện hành, Khoản 7 Điều 7 đã tăng mức phạt hành chính cho lỗi không chấp hành hiệu lệnh đèn tín hiệu giao thông lên thành 4-6 triệu đồng với người điều khiển môtô, xe gắn máy vi phạm. Ngoài ra, người vi phạm còn bị trừ 4 điểm giấy phép lái xe. Nếu bị trừ hết 12 điểm, người sở hữu giấy phép lái xe sẽ không được điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ cấp theo hạng bằng lái đó.

Nghị định 100 từng quy định mức phạt tiền từ 600.000 đồng đến 1 triệu đồng với người đi môtô, xe gắn máy không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông. Hành vi này khiến người vi phạm bị tước giấy phép lái xe 1-3 tháng.

Tuy nhiên trong Nghị định 168 hiện hành, Khoản 7 Điều 7 đã tăng mức phạt hành chính cho lỗi không chấp hành hiệu lệnh đèn tín hiệu giao thông lên thành 4-6 triệu đồng với người điều khiển môtô, xe gắn máy vi phạm.

Ngoài ra, người vi phạm còn bị trừ 4 điểm giấy phép lái xe. Nếu bị trừ hết 12 điểm, người sở hữu giấy phép lái xe sẽ không được điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ cấp theo hạng bằng lái đó.

Vi phạm giao thông đường bộ có thể bị phạt lên tới 150 triệu đồng

Tại Điều 3 Nghị định số 336/2025/NĐ-CP, Chính phủ quy định rõ mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực giao thông đường bộ đối với cá nhân là 75 triệu đồng và đối với tổ chức là 150 triệu đồng. Đây là mức xử phạt cao nhằm tăng tính răn đe đối với các hành vi vi phạm ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự, an toàn giao thông và hoạt động vận tải.

Cũng theo quy định này, các hình thức xử phạt chính bao gồm: Cảnh cáo; Phạt tiền.Bên cạnh đó, hình thức xử phạt bổ sung được áp dụng tùy theo tính chất, mức độ vi phạm như: Đình chỉ việc tổ chức đào tạo; Đình chỉ hoạt động thi công;Tước quyền sử dụng phù hiệu xe ô tô kinh doanh vận tải; Tước quyền sử dụng giấy phép kinh doanh vận tải.

Không chỉ dừng ở xử phạt hành chính, khoản 4 Điều 3, Nghị định số 336/2025/NĐ-CP còn quy định hàng loạt biện pháp khắc phục hậu quả, buộc tổ chức, cá nhân vi phạm phải; Khôi phục tình trạng ban đầu của công trình bị thay đổi trái phép;

Điều 11 Nghị định 336/2025/NĐ-CP quy định, người điều khiển xe kinh doanh vận tải có thể bị phạt từ 300.000 đồng đến 2 triệu đồng đối với các hành vi như:

Không mặc đồng phục, không đeo thẻ tên theo quy định; Điều khiển taxi không sử dụng hoặc can thiệp đồng hồ tính tiền; Không sử dụng phần mềm tính cước theo quy định;Thu tiền vé cao hơn mức đã kê khai, niêm yết.

Điều 12, Nghị định số 336/2025/NĐ-CP quy định mức xử phạt đối với đơn vị kinh doanh vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải được chia thành nhiều khung, tùy mức độ vi phạm:

Từ 500.000 đồng đến 2 triệu đồng: Không niêm yết nội quy, giá dịch vụ tại bãi đỗ xe;

Từ 2 triệu đồng đến 6 triệu đồng: Không giám sát hoạt động lái xe, không miễn giảm giá vé cho đối tượng chính sách;

Từ 6 triệu đồng đến 10 triệu đồng: Không bố trí người điều hành vận tải đủ điều kiện, không thực hiện chế độ báo cáo;

Từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng: Không mua bảo hiểm cho hành khách, không thực hiện đúng giá dịch vụ đã kê khai;

Từ 24 triệu đồng đến 32 triệu đồng: Kinh doanh vận tải không có giấy phép hoặc tổ chức điểm đón trả khách trái phép;

Từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng: Vi phạm của đơn vị cung cấp phần mềm kết nối vận tải, tự ý điều chỉnh giá cước hoặc không cung cấp dữ liệu cho cơ quan quản lý.

Ngoài tiền phạt, nhiều hành vi còn bị tước phù hiệu xe hoặc giấy phép kinh doanh vận tải từ 1 đến 3 tháng.

Nghị định cũng mở rộng xử phạt đối với nhân viên phục vụ trên xe, vận tải nội bộ và dịch vụ cho thuê phương tiện, trong đó có các hành vi như thu tiền vé nhưng không giao vé, sử dụng xe nội bộ để kinh doanh vận tải hoặc cho thuê xe khi người thuê không đủ điều kiện lái xe hợp pháp.

Theo Điều 26 Nghị định 336/2025/NĐ-CP, toàn bộ quy định nêu trên chính thức có hiệu lực từ ngày 01/3/2026. Việc nâng mức xử phạt và bổ sung nhiều biện pháp khắc phục hậu quả được đánh giá là bước siết chặt quản lý hoạt động vận tải đường bộ, hướng tới xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, đồng thời nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp và người tham gia giao thông trong bảo đảm an toàn đường bộ.