Việt Nam vào nhóm thu nhập trung bình cao: Chặng đường phía trước còn nhiều thử thách

Việc Việt Nam chính thức gia nhập nhóm quốc gia thu nhập trung bình cao là một cột mốc quan trọng, phản ánh thành quả của nhiều thập kỷ cải cách và tăng trưởng. Tuy nhiên, theo bà Mariam J. Sherman, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Campuchia và Lào, chặng đường tiến tới quốc gia thu nhập cao sẽ đòi hỏi Việt Nam nâng cao năng suất, đổi mới sáng tạo, củng cố doanh nghiệp trong nước và cải thiện năng lực thực thi.
viet-nam-vao-nhom-thu-nhap-trung-binh-cao-chang-duong-phia-truoc-con-nhieu-thu-thach-1783732629.jpg
Bà Mariam J. Sherman

Việc Việt Nam được xếp vào nhóm quốc gia thu nhập trung bình cao phản ánh điều gì và có ý nghĩa như thế nào đối với chặng đường phát triển của đất nước, thưa bà?

Năm nay, Việt Nam là một trong sáu nền kinh tế trên thế giới được Nhóm Ngân hàng Thế giới nâng lên nhóm thu nhập cao hơn. Sau 17 năm thuộc nhóm thu nhập trung bình thấp (kể từ năm 2009), Việt Nam đã chính thức đạt mức thu nhập trung bình cao. Đây là một cột mốc quan trọng trong hành trình phát triển của đất nước, phản ánh sự chuyển mình mạnh mẽ qua nhiều thập kỷ cải cách bền bỉ, tăng trưởng kinh tế vững chắc và mức sống ngày càng được nâng cao.

Việt Nam – “câu chuyện của tăng trưởng”
Đáng chú ý, trong bài viết trên Data Blog của WB, các chuyên gia WB mô tả Việt Nam là “câu chuyện của tăng trưởng”. Trong đó, Việt Nam ghi nhận kim ngạch xuất khẩu tăng hơn 15% trong cả năm 2024 và 2025; GDP tăng lần lượt 7% và 8% trong hai năm này. GNI của Việt Nam tăng bình quân khoảng 10% mỗi năm trong giai đoạn 2021-2025, thuộc nhóm có đà tăng bền vững mạnh nhất trong khu vực.

Tuy nhiên, ý nghĩa của việc được nâng hạng không chỉ dừng lại ở bản thân danh mục phân loại. Khi một quốc gia phát triển lên tầm cao hơn, bản chất của các thách thức tăng trưởng cũng thay đổi theo. Những động lực đưa Việt Nam đến ngưỡng thu nhập trung bình cao vẫn còn nguyên giá trị, song để duy trì tăng trưởng trong tương lai, đất nước sẽ ngày càng phụ thuộc vào năng suất, đổi mới sáng tạo, sự lớn mạnh của doanh nghiệp nội địa và khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao hơn trong toàn nền kinh tế.

Chương tiếp theo của hành trình phát triển sẽ không chỉ được định hình bởi tốc độ tăng trưởng, mà còn bởi chất lượng của sự tăng trưởng đó – yếu tố then chốt trên con đường Việt Nam tiến tới trở thành nền kinh tế thu nhập cao vào năm 2045.

Theo bà, Việt Nam cần ưu tiên những giải pháp nào để duy trì đà tăng trưởng, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và tiến tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045?

Chặng đường phía trước vẫn còn nhiều thử thách. Theo ngưỡng phân loại năm nay, thu nhập bình quân đầu người theo GNI của Việt Nam cần tăng gần gấp ba lần mới đạt mức thu nhập cao. Điều này giúp lý giải tại sao, kể từ năm 1990, chỉ có 27 nền kinh tế chuyển thành công từ nhóm thu nhập trung bình lên thu nhập cao – và hơn một phần ba trong số đó được hưởng lợi từ những điều kiện đặc thù như gia nhập Liên minh châu Âu hoặc sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào.

Các ngưỡng phân loại thu nhập của WB

Theo cập nhật của WB, các nền kinh tế thu nhập trung bình cao là những nền kinh tế có GNI bình quân đầu người từ 4.636 USD đến 14.375 USD trong năm 2025. Nhóm thu nhập trung bình thấp có GNI bình quân đầu người từ 1.176 USD đến 4.635 USD; nhóm thu nhập cao là trên 14.375 USD; còn nhóm thu nhập thấp là từ 1.175 USD trở xuống.

Điều đáng khích lệ là Việt Nam đã hội tụ nhiều yếu tố nền tảng quan trọng. Đất nước có lực lượng lao động trẻ và năng động, nền kinh tế vĩ mô ổn định, vị trí địa chiến lược ở trung tâm khu vực tăng trưởng năng động nhất châu Á và, quan trọng hơn hết, là ý chí mạnh mẽ cùng năng lực cải cách, thích ứng đã được chứng minh qua thực tiễn. Đây là những lợi thế mà không phải quốc gia nào cũng có được.

Để hiện thực hóa khát vọng năm 2045, Việt Nam cần giải quyết một số thách thức trọng yếu. Một trong số đó là khoảng cách ngày càng lớn giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nội địa. Trong khi đầu tư nước ngoài là động lực quan trọng thúc đẩy thành công của Việt Nam, giai đoạn phát triển tiếp theo đòi hỏi phải củng cố mạnh mẽ khu vực doanh nghiệp trong nước – đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa – để các doanh nghiệp này có thể đổi mới, phát triển, tạo ra nhiều việc làm chất lượng hơn và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Là một trong những nền kinh tế mở nhất thế giới, Việt Nam cần tiếp tục tăng cường khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời đa dạng hóa động lực tăng trưởng trong bối cảnh môi trường quốc tế ngày càng nhiều biến động.

Đầu tư công đang trở thành một trong những đòn bẩy tăng trưởng then chốt, với kế hoạch vốn đầu tư công giai đoạn 2026–2030 tăng gần gấp ba lần so với giai đoạn năm năm trước. Song đầu tư công cần chuyển từ mục tiêu giải ngân nhanh sang mục tiêu tạo ra tác động thực sự. Điều đó đòi hỏi phải nâng cao chất lượng lựa chọn dự án, tăng cường năng lực chuẩn bị đầu tư, cải thiện hiệu quả đấu thầu và xây dựng cơ chế giảm thiểu rủi ro để thu hút vốn tư nhân.

Trong những năm qua, Việt Nam luôn nằm trong nhóm các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực, được thúc đẩy bởi dòng vốn đầu tư nước ngoài ổn định, xuất khẩu tăng mạnh và khu vực dịch vụ trong nước ngày càng phát triển. Cột mốc này có thể góp phần củng cố thêm niềm tin của cộng đồng quốc tế vào triển vọng kinh tế dài hạn của Việt Nam, đồng thời khẳng định vị thế của đất nước như một điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư.
Hạ tầng sẽ đóng vai trò trung tâm trong giai đoạn phát triển tiếp theo. Chương trình đầu tư công đầy tham vọng của Chính phủ có thể giúp giải quyết những điểm nghẽn hạ tầng trọng yếu, nhưng nguồn lực công đơn thuần sẽ không đủ đáp ứng các mục tiêu hạ tầng dài hạn của đất nước. Đây là lĩnh vực mà Ngân hàng Thế giới đang phối hợp chặt chẽ với Chính phủ để đổi mới cách tiếp cận tài chính hạ tầng, tạo điều kiện thu hút vốn tư nhân thông qua các dự án được chuẩn bị tốt, có tính khả thi về mặt tài chính.

Sự kết hợp giữa đầu tư công và tư nhân có thể giúp xây dựng hệ thống giao thông, năng lượng và hạ tầng số cần thiết để nền kinh tế tiếp tục phát triển bền vững.

Tăng trưởng dài hạn cũng đòi hỏi phải đa dạng hóa và phát triển chiều sâu các nguồn tài chính, không chỉ dựa vào hệ thống ngân hàng. Tiếp tục cải cách thị trường vốn sẽ giúp bảo đảm nguồn vốn và tín dụng ngân hàng được phân bổ hiệu quả đến các doanh nghiệp năng động và có tiềm năng tăng trưởng cao, bao gồm cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Kế thừa kết quả từ việc FTSE Russell nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam, việc tiếp tục cải cách sẽ giúp củng cố thị trường vốn, mở rộng cơ sở nhà đầu tư và nâng cao vị thế của Việt Nam trên thị trường tài chính quốc tế.

Song song với đó, doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cần được hậu thuẫn bởi nguồn nhân lực chất lượng cao. Khi Việt Nam tiến gần hơn đến mức thu nhập cao, việc đầu tư liên tục vào đổi mới sáng tạo, phát triển kỹ năng và ứng dụng công nghệ là điều kiện thiết yếu giúp doanh nghiệp leo lên nấc cao hơn trong chuỗi giá trị, cạnh tranh trong các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao hơn và tạo ra nhiều việc làm tốt hơn.

Quan trọng hơn, cải thiện môi trường pháp lý là cần thiết nhưng chưa đủ. Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong cải cách thể chế, nhưng tăng trưởng bền vững, xét đến cùng, đòi hỏi sự cam kết có hệ thống: từng cấp chính quyền, từng cơ quan, từng chủ thể đều hướng về cùng một mục tiêu phát triển chung.

Việc chuyển sang nhóm quốc gia thu nhập trung bình cao đặt ra những thay đổi gì đối với Việt Nam về nguồn tài chính phát triển, thu hút đầu tư và quan hệ đối tác với Ngân hàng Thế giới, thưa bà?

Việc Việt Nam được phân loại lại vào nhóm thu nhập trung bình cao mở ra những cơ hội mới để tăng cường hợp tác với Ngân hàng Thế giới, các nhà đầu tư và cộng đồng phát triển quốc tế.

Khi Việt Nam bước sang giai đoạn phát triển mới, các thách thức cũng trở nên phức tạp hơn. Giải quyết những thách thức này đòi hỏi nguồn tài chính và đầu tư tương xứng với quy mô và tính phức tạp của giai đoạn phát triển tiếp theo.

Năng lực của Nhóm Ngân hàng Thế giới phù hợp tốt với những nhu cầu đang thay đổi này. Bên cạnh các khoản tài trợ cạnh tranh với kỳ hạn dài, Ngân hàng mang đến tri thức toàn cầu, chuyên môn kỹ thuật và kinh nghiệm hỗ trợ các quốc gia đã chuyển đổi thành công trong những giai đoạn tương tự – như Ba Lan và Hàn Quốc – đồng thời thích nghi các bài học đó với bối cảnh đặc thù của Việt Nam.

Ngân hàng cũng có thể hỗ trợ tăng cường năng lực triển khai, kết nối các đối tác phát triển, chuyên môn khu vực tư nhân và kinh nghiệm quốc tế nhằm tạo ra tác động ở quy mô lớn.

Hiện Nhóm Ngân hàng Thế giới đang phối hợp với Chính phủ Việt Nam xây dựng Khung Đối tác Quốc gia mới, tập trung xác định chương trình tư vấn chính sách, hỗ trợ kỹ thuật và đầu tư phản ánh đúng các ưu tiên phát triển đang tiến hóa và khát vọng dài hạn của Việt Nam.

Trân trọng cảm ơn bà!