Nữ giám đốc lừa đảo hơn 1.200 tỷ tiền trồng sâm Ngọc Linh
VKSND TP Hà Nội vừa ra cáo trạng truy tố Phạm Mỹ Hạnh (SN 1980, ở phường Yên Hòa, Hà Nội) về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174.
Theo cáo trạng, năm 2020, bị can thành lập Công ty CP Tập đoàn Mỹ Hạnh và là người trực tiếp quản lý, điều hành, quyết định toàn bộ việc kinh doanh, việc sử dụng tiền góp vốn đầu tư của khách hàng vào Công ty.
Năm 2020, Phạm Mỹ Hạnh đã dùng thủ đoạn, đưa ra thông tin gian dối, tổ chức các cuộc hội thảo giới thiệu, quảng bá về việc Công ty Mỹ Hạnh chuyên kinh doanh buôn bán các sản phẩm từ cây sâm Ngọc Linh.
Bị can quảng cáo doanh nghiệp của mình đang thực hiện triển khai dự án trồng và chăm sóc sâm Ngọc Linh tại các tỉnh Kon tum, Quảng Nam (nay thuộc Đà Nẵng), là thương hiệu quốc bảo Việt Nam.
Hạnh đưa các hình ảnh ký kết hợp đồng với đại diện các Công ty nước ngoài; làm việc với lãnh đạo cấp cao… treo tại văn phòng đồng thời quảng cáo Công ty có vốn nghìn tỷ, kinh doanh đúng hướng, uy tín, hiệu quả; được tặng nhiều bằng khen của chính quyền.
Để thu hút người góp vốn, bị can còn tổ chức cho các nhà đầu tư đi thăm quan dự án trồng và chăm sóc cây sâm Ngọc Linh tại thị trấn Măng Đen (tỉnh Kon tum), tạo lòng tin về đầu tư các dự án.
Qua đây, Hạnh kêu gọi các nhà đầu tư góp tiền vào công ty thông qua hình thức ký hợp đồng chuyển nhượng cổ phần hoặc hợp tác đầu tư với lãi suất “khủng”, từ 2 đến 4%/tháng, tương đương từ 24 đến 48%/năm.
Cáo trạng thể hiện bằng thủ đoạn trên, từ tháng 8/2020 đến 3/2023, Hạnh đã ký hơn 3.600 hợp đồng huy động vốn, thu về hơn 1.279 tỷ đồng. Trong số này, Hạnh dùng hơn 605 tỷ trả tiền gốc và lợi nhuận cho các nhà đầu tư; chi hơn 52 tỷ mua sâm Ngọc Linh; chi 158 tỷ hoa hồng cho các cá môi giới; dùng 66 tỷ mua cổ phần của HTX Tuyết Sơn; dùng 125 tỷ mua bất động sản…
Đến nay, Cơ quan điều tra xác minh, ghi lời khai của 298 nhà đầu tư được xác định là bị hại trong vụ án. Họ ký 720 hợp đồng các loại với Công ty Mỹ Hạnh, với tổng số tiền góp vốn là 241 tỷ đồng; đã nhận về 27 tỷ lợi nhuận cùng 19 tỷ tiền gốc và còn bị chiếm đoạt 194 tỷ đồng.
Đối tượng gây ra vụ việc có thể phải chịu trách nhiệm hình sự
Luật sư Vũ Anh Tuấn, Văn phòng luật sư Trung Hòa, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội cho hay, vụ việc cho thấy thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi khi kẻ xấu lợi dụng sự thiếu hiểu biết pháp lý và lòng tham về lợi nhuận cao của người dân để huy động vốn, gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhiều nhà đầu tư, đồng thời ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư và niềm tin xã hội.
Đây là bài học cảnh tỉnh rõ ràng đối với các nhà đầu tư. Họ cần rút kinh nghiệm, nâng cao cảnh giác, tìm hiểu kỹ tính pháp lý và tính khả thi của các dự án, và tham vấn luật sư cũng như người có chuyên môn trước khi ký kết hợp đồng và chuyển tiền đầu tư.
Hành vi của nữ giám đốc trong vụ việc có dấu hiệu cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Cụ thể, đối với hành vi chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên, đặc biệt trong vụ việc này số tiền bị chiếm đoạt được xác định trên 1.200 tỷ đồng, người phạm tội có thể bị áp dụng khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
Ngoài ra người phạm tội còn có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung như: Phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm, hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Luật sư Vũ Anh Tuấn cho biết thêm, về mặt pháp lý, người bị hại có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Cụ thể, Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về việc trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi như sau: Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra.
“Tuy nhiên, trên thực tế, khả năng thu hồi lại đầy đủ số tiền đã đầu tư là rất khó. Nguyên nhân là bởi trong các vụ việc này, bên huy động vốn thường lấy tiền của người góp vốn sau để trả lãi cho người góp vốn trước, đồng thời sử dụng vốn sai mục đích dẫn đến thất thoát nghiêm trọng. Đến khi vụ án bị phát hiện, phần lớn số tiền đã không còn khả năng thu hồi”, luật sư Anh Tuấn nêu quan điểm.
Ngoài ra, việc nhà đầu tư có thể lấy lại được bao nhiêu tiền phụ thuộc chủ yếu vào khối tài sản mà cơ quan tiến hành tố tụng kê biên, phong tỏa được trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử.
Do đó, người bị hại cần chủ động tham gia tố tụng với tư cách bị hại, cung cấp đầy đủ chứng cứ, hợp đồng, chứng từ chuyển tiền để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.